Rối loạn ám ảnh cưỡng chế OCD

Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế (OCD) Là Gì? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế có tên tiếng anh là “Obsessive Compulsive Disorder” và viết tắt là OCD. Theo thông tin ghi nhận thì đây là một chứng bệnh rối loạn tâm lý mãn tính gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh, dấu hiệu phổ biến của căn bệnh OCD đó chính là ý nghĩ ám ảnh, lo lắng không có lý do chính đáng và phải thực hiện các hành vi có tính chất cưỡng chế, ép buộc do tâm lý gây ra để giảm bớt căng thẳng. Đây là một căn bệnh thuộc trong nhóm liên quan trực tiếp đến Stress – là những căng thẳng do ức chế tâm lý gây ra. Còn có một tên gọi khác để nói về căn bệnh này là “Bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng bức”.

Đa phần những người bị ảnh hưởng của căn bệnh này đều bị điều khiển để thực hiện hành vi một cách vô ý thức, buộc bản thân người bệnh phải phục tùng theo để giải tỏa căng thẳng của bản thân. Người bị bệnh có thể lặp đi lặp lại những hành động vô nghĩa mà không thể nào kiểm soát được. Ví dụ như người bệnh có thể rửa tay hàng chục lần trong ngày mà vẫn có tâm trạng bức bối hay dành quá nhiều thời gian cho việc lau chùi một đồ vật nào đó. Một ví dụ cụ thể hơn khi người bệnh tự hỏi bản thân mình đã ấn nút bật nồi cơm chưa? Ý nghĩ này liên tục dội về gây cho người bệnh ý nghĩ sợ sệt. Điều này thôi thúc họ phải quay ngược lại căn bếp để kiểm tra xem mình đã ấn nút nồi cơm hay chưa. Mục đích cuối cùng chỉ để họ giải tỏa được những căng thẳng của bản thân vì bị ý nghĩ sợ sệt đó chi phối.

Ngoài ra nỗi lo lắng khi sợ sệt một vấn đề nào đó và buộc người bệnh phải làm theo, nhưng nếu điều này lặp đi lặp lại trong một thời gian dài sẽ khiến cho bệnh tình ngày một nặng hơn. Và nếu không có sự điều trị kịp thời sẽ gây nên ức chế thần kinh lớn hơn ảnh hưởng đến công việc, học tập cũng như là chi phối toàn bộ cuộc sống.

 

Những đối tượng nào thường mắc bệnh OCD?

Đa phần căn bệnh OCD này thường bắt đầu ở những lứa tuổi thành niên hoặc đầu trưởng thành. Tuy nhiên theo thông tin ghi nhận được từ các nhà Tâm lý học có khoảng một phần ba số lượng trẻ khởi phát căn bệnh này khi còn nhỏ tuổi và có những trường hợp trẻ bị mắc bệnh trước tuổi đi học (trước 2 tuổi). Đây là một con số đang ở mức báo đỏ, điều quan trọng ở đây là đứa trẻ cần phải được phát hiện sớm và đưa ra những phương pháp trị liệu tốt nhất, tránh bệnh phát triển khi trưởng thành. Tổ chức ODC đã tuyên bố rằng trên thế giới có khoảng 2% dân số đang mắc bệnh, nếu thống kê ra trên thế giới có tới hàng trăm triệu người đang mắc phải căn bệnh này.

 

Triệu chứng của rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD) là gì?

Theo thông tin ghi nhận từ Học viện sức khỏe Tâm thần Hoa Kỳ (NINH) có tới 50% người mắc bệnh OCD phát ra những triệu chứng đột ngột và từ 50% – 70% người mắc bệnh sẽ có tình trạng sang chấn tâm lý nặng khi phát hiện mang thai ngoài ý muốn, bị lạm dụng tình dục, mất đi người thân,…những nguyên nhân khiến họ không thể nào chấp nhận được ở thực tại. Và thông thường OCD có những biểu hiện âm thầm và khởi phát dần dần, đa số những trẻ em mắc phải căn bệnh này đều không phân biệt được ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế mà do chính bản thân nó gây ra và đang chịu sự điều khiển của căn bệnh này. Căn cứ vào đó ta có thể nhận biết được triệu chứng của ODC khởi phát ở hai mức độ:

1, Ý nghĩ ám ảnh

Ý nghĩ ám ảnh là những ý nghĩ vô nghĩa cứ lặp đi lặp lại trong tâm trí người bệnh một cách mất kiểm soát, thể hiện sự sợ hãi, hoang mang, lo âu quá mức, và trong mắt người bệnh luôn tồn tại của chủ nghĩa hoàn hảo rằng mọi thứ phải thật sạch sẽ,  ngăn nắp là những biểu hiện thường thấy ở căn bệnh này. Ví dụ: như hình như tôi đã quên mất khóa cửa, hoặc là sàn nhà này lau chưa được sạch, đồ đạc xếp chưa được kĩ càng tạo ra sự lo lắng tột độ nhưng trên thực tế thì cửa nhà đã được khóa, sàn nhà đã được lau sạch và đồ đạc cũng đã được sắp xếp gọn gàng.

Các biểu hiện đặc trưng, phổ biến của ý nghĩ ám ảnh là:

  • Sợ bị bẩn, quan tâm quá mức đến chất thải của cơ thể, đến những chất gây hại, vi khuẩn,… người bệnh bị chi phối bởi những ý nghĩ vô nghĩa, và sự tồn tại thường trực của chủ nghĩa hoàn hảo.
  • Lo lắng thái quá về những chất gây ô nhiễm, nghi ngờ quá mức về mọi việc và cho rằng mọi thứ không được sạch sẽ, đòi hỏi bản thân phải lặp đi lặp lại một hành động vô nghĩ nào đó để giải tỏa những căn thẳng đang bị chi phối.
  • Cảm thấy bản thân luôn mắc phải những sai lầm khi nào cũng trạng thái sợ những điều tồi tệ xảy ra và buộc phải có trách nhiệm về những điều sai trái đó.
  • Sợ hành vi của mình sẽ không được chấp nhận, làm tổn hại đến mình và những người xung quanh khiến cho bản thân càng trở nên cô lập, ràng buộc trong chính sự tiêu cực của mình.
  • Đòi hỏi tính chính xác tuyệt đối đôi lúc bị rơi vào sự nóng nảy vì có những thứ hoàn toàn không đạt được như ý nghĩ của mình.
  • Có những suy nghĩ không mong muốn gây ra những ám ảnh vì những tác hại của đồi trụy.

Rửa tay nhiều lần

2, Hành vi cưỡng chế

Đại đa số người mắc bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường có các hành động lặp đi lặp lại một cách vô nghĩa gọi là hành vi cưỡng chế, nhằm  đáp lại cho những ý nghĩ của ám ảnh, những biểu hiện thường thấy người bệnh luôn kiểm tra giặt giũ, sắp xếp đồ đạc quanh nhà, liệt kê những việc đã làm đến mức bản thân họ cảm thấy thỏa mãn về điều đó. Những hành vi này đều có những mục đích riêng của người bệnh nhằm giải tỏa những căng thẳng của suy nghĩ và những hành vi này lặp đi lặp lại như là một nghi lễ, điều này giúp cho họ tránh khỏi những suy nghĩ hoang mang thái quá, lo âu vô độ nhưng đều chỉ mang tính chất tạm thời.

Các biểu hiện, đặc trưng của hành vi cưỡng chế phổ biến như là:

  • Thói quen thức dậy nhiều lần để kiểm tra mọi thứ đều phải được sắp xếp kỹ càng đến mức độ tuyệt đối, chính xác hóa.
  • Lau chùi, giặt giũ, rửa tay liên tục vì sợ bẩn, sợ nhiễm trùng ( mặc dù điều này hoàn toàn không có trong thực tế).
  • Sắp xếp giày dép, quần áo theo một thứ tự định sẵn hoàn hảo hết tất cả mọi thứ mới có cảm giác hết lo âu.
  • Sưu tầm và tích trữ, đếm nhiều lần về một đồ vật mà bản thân cảm thấy chưa được thỏa mãn.

Rối loạn ám ảnh cưỡng chế OCD

Lưu ý

Đa số người mắc bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế đều hiểu rõ được tính chất phi lý về những ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế của mình ( 80% người bệnh đều nhận thức được điều này ) nhưng đa phần họ đều không có khả năng kháng cự lại những ý nghĩ chi phối của bản thân. Và đa phần họ đều đang trong tình trạng đấu tranh tư tưởng, phán quyết tâm lý quyết liệt để chống lại sự điều khiển của căn bệnh. Nhưng qua một thời gian chất kháng cự trong suy nghĩ trở nên yếu đi và họ bị chi phối bởi những hành vi cưỡng chế ở mức độ nặng hơn mang tính chất lễ nghi mạnh mẽ.

Theo nghiên cứu của các nhà Tâm lý học những người mắc bệnh OCD có thể có các triệu chứng khác với những triệu chứng đã đề cập trên, nhưng nếu gặp một trong hai triệu chứng nghiêm trọng sau bạn cần phải có sự trợ giúp từ bác sĩ để đưa ra kết quả chính xác nhất, nhằm phân biệt các triệu chứng này với các triệu chứng thường nhật.

=> Bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế có thể kéo dài từ một năm thậm chí là tới mấy chục năm, nếu không có sự phối hợp kịp thời từ chuyên gia tâm lý học thì mức độ triệu chứng giảm dần theo thời gian khả năng là rất thấp và có nguy cơ sẽ dẫn tới OCD mãn tính.

 

Các tiêu chuẩn để chẩn đoán OCD là gì?

Đôi khi rất khó để có thể đưa ra các triệu chứng chẩn đoán bệnh nhưng theo ICD-10, để chẩn đoán căn bệnh một cách chính xác nhất thì người bệnh thường sẽ gặp phải những ý nghĩ ám ảnh hoặc hành vi cưỡng chế liên tiếp trong một thời gian dài gây ra những biểu hiện về tâm lý, và ảnh hưởng lớn đến cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Các triệu chứng ám ảnh thường xuất hiện như:

  • Người bệnh thừa nhận đó là những ý nghĩ ám ảnh hoặc hành vi làm tổn hại đến chính bản thân mình.
  • Những ý nghĩ đó và hành vi đó đem lại cho người bệnh sự tiêu cực, mệt mỏi bị ràng buộc trong chính suy nghĩ của mình.
  • Có ít nhất một ý nghĩ hoặc một hành vi đang được người bệnh trực tiếp khống chế, tuy nhiên nó không đem lại kết quả và hậu quả người bệnh có thể làm giảm khả năng phòng ngự của suy nghĩ.
  • Có các ý nghĩ, hành vi lặp đi lặp lại gây ra sự khó chịu và nóng nảy.

 

Vậy nguyên nhân xuất phát là từ đâu?

Có rất nhiều giả thuyết được để ra để nói về nguyên nhân của căn bệnh này, trước đây họ cho rằng là do kinh nghiệm sống không phù hợp và sự phát triển của các nhân tố sinh học. Thực tế thì các bệnh nhân mắc rối loạn ám ảnh ở nữ có tỷ lệ mắc cao hơn ở nam giới và bệnh khởi phát từ độ tuổi 15-25 và từ đó họ quy rằng xuất phát từ phương pháp dạy dỗ từ khi còn nhỏ. Nhưng theo thông tin nghiên cứu từ các nhà Tâm lý học thì có 5 nguyên nhân chính để chỉ về căn bệnh này:

  • Gen và tiền sử gia đình: cũng như các bệnh tâm thần khác tiền sử gia đình là một yếu tố quan trọng để chẩn đoán người đó có mắc bệnh về OCD hay không. Các nghiên cứu cho rằng gen ảnh hưởng từ 45-65% và những cặp song sinh có mối liên hệ chặt chẽ thì khả năng mắc bệnh càng cao hơn lên tới 80-87%.
  • Có các chức năng bất thường và các chất hóa học trong bộ não: hầu hết các bệnh tâm thần xuất phát từ những vấn đề tâm lý có liên quan nhất định đến bộ não. Các chất hóa học của bộ não từ lâu đã trở thành một khía cạnh mà các nhà tâm lý học nghiên cứu đến về đưa kết luận về căn bệnh OCD này. Đến tận bây giờ các nhà khoa học chưa thực sự tìm ra được nguyên nhân triệt để liên quan đến hoạt động của bộ não xuất phát từ chứng bệnh này.
  • Ảnh hưởng xuất phát từ sang chấn tâm lý: người bệnh thường gặp những cú sốc tinh thần lớn và rối loạn stress sau chấn thương, và những cưỡng chế của bệnh nhằm giảm những nỗi buồn do bệnh gây ra. Khi bệnh nhân thực sự được điều trị để giảm đi các triệu chứng của rối loạn stress thì chấn thương lại càng nặng thêm. Đây là một thử thách. Đây là một thử thách lớn của Y khoa đòi hỏi các chuyên gia tâm lý phải thật sự tìm ra các nguyên nhân chuẩn xác nhất về căn bệnh này.
  • Tính cách: xét về góc độ tính cách của một người cầu toàn cũng là nguyên nhân gây nên căn bệnh OCD nhưng ta không được nhầm lẫn sự khác biệt cơ bản giữa họ bởi vì không phải người cầu toàn nào cũng mắc phải căn bệnh này. Người mắc bệnh OCD chịu sự chi phối của chủ nghĩa hoàn hảo,mang lại nhiều yếu tố tiêu cực trong suy nghĩ, còn người cầu toàn thì ngược lại, những chi phối mà họ mắc phải thường phục vụ cho mục đích của họ là thành công.
  • Nhiễm trùng Streptococcus ở trẻ em và OCD: ở một vài trường hợp thì nhiễm trùng Streptococcus có thể khởi phát các triệu chứng của OCD nhưng cơ chế cụ thể của việc này thì chưa được các nhà chuyên gia kiểm nghiệm một cách rõ ràng. Trong trường hợp đứa trẻ mắc các chứng bệnh liên quan đến rối loạn tâm thần thần kinh tự miễn thì nhiễm trùng có thể khởi phát gây ảnh hưởng lớn đến não và bắt đầu xuất hiện các triệu chứng của OCD.

Đó là những nguyên nhân gây nên căn bệnh OCD này đòi hỏi các nhà chuyên gia tâm lý học, tâm thần học tìm ra các phương pháp trị liệu hiệu quả nhất cho người bệnh nhằm giảm thiểu tối đa các rủi ro mà OCD đang trực tiếp tác động lên cuộc sống của họ.

 

Giải pháp trị bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD)

Các bệnh về thần kinh thường xuất phát từ những tư duy sai lầm và đa phần đều mang ý nghĩa tiêu cực trong một thời gian dài. Và OCD cũng không nằm trong ngọai lệ, nó không thể điều trị ngay lập tức được mà cần có một thời gian nhất định nào đó, thậm chí căn bệnh này còn kéo dài đến hết cuộc sống của người bệnh nếu không có những biện pháp trị liệu cụ thể.

Theo kết quả nghiên cứu lâm sàng trên động thực vật được thực hiện bởi  NIMH và các tổ chức khoa học khác đã đưa ra thông tin cung cấp cho người bệnh:

  • Dùng thuốc: thử nghiệm lâm sàng cho ra kết quả thuốc tác động lên chất dẫn truyền với tác dụng của thành phần serotonin có hiệu quả trong việc làm giảm ức chế thần kinh do OCD gây nên, thuốc có tác dụng rõ rệt sau ít nhất 3 tuần hoặc có thể kéo dài đến một thời gian lâu hơn. Nhưng nhược điểm của loại thuốc này chỉ có tác dụng tối ưu trong thời gian sử dụng thuốc nên ngưng sử dụng bệnh sẽ tiếp tục tái phát.
  • Liệu pháp trị liệu hành vi: liệu pháp này đem lại hiệu quả cho mọi đối tượng nhưng mang lại hiệu quả tối đa nhất ở trẻ em. Nghiên cứu phương pháp trị liệu hành vi này phần lớn đều thành công nếu như người bệnh kiên trì hoàn thành đến cả khóa học. Khi quá trình điều trị có kết quả, phần lớn người bệnh dần dần có thể giảm bớt những lo âu và mang lại một suy nghĩ tích cực hơn. Các ý nghĩ và hành vi đều đang được cưỡng chế.
  • Chăm sóc hỗ trợ từ gia đình: đây là một trong những liệu pháp rất quan trọng là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho người bệnh, giúp đỡ người bệnh tránh khỏi sự kỳ thị ở đám đông và là chỗ dựa nền tảng cho người bệnh vượt qua khỏi những âu lo và các hành vi gây rắc rối sẽ được giữ trong vòng  kiểm soát.

=>  Đây là những giải pháp trị liệu tốt nhất mà các chuyên gia đã đưa ra tuy nhiên cần phải được theo dõi tiến trình của người bệnh từng giai đoạn một để kịp thời đưa ra những biện pháp trị liệu thích hợp hơn cho từng đối tượng.

Bài viết liên quan: Rối Loạn Nhân Cách Chống Đối Xã Hội (ASPD) Là Gì?

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *