Rối loạn ngôn ngữ là gì? Nguyên nhân và phương pháp điều trị

Rối loạn ngôn ngữ là một trong những rối loạn liên quan đến hệ thống thần kinh trong vùng não bộ có chức năng xử lý ngôn ngữ. Người mắc chứng rối loạn ngôn ngữ sẽ gặp rất nhiều trở ngại trong giao tiếp, biểu đạt, tiếp thu lời nói từ mọi người cũng như thể hiện suy nghĩ của mình ra bên ngoài và làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hằng ngày.

Rối loạn ngôn ngữ là gì?

Não bộ và ngôn ngữ luôn có sự liên quan mật thiết với nhau, não bộ được lập trình sẵn về mặt di truyền và dần phát triển khi con người trưởng thành. Song song với sự phát triển của não bộ là những kích thích, tác động từ môi trường bên ngoài như hệ thống ngôn ngữ, học tập, nền văn hoá, những trải nghiệm, hành vi ứng xử,… bổ sung thêm cho sự phát triển các chức năng của não.

Sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với hệ thống thần kinh và hoạt động theo chu trình bắt đầu từ sự nghe – đường vào chính của ngôn ngữ truyền đến hệ thống thần kinh trung ương, các trung tâm vận động, cảm thụ ngôn ngữ được hình thành trong quá trình phát triển của vỏ não và đưa đến bộ máy phát âm, cơ quan thực hiện ngôn ngữ.

rối loạn ngôn ngữ ở trẻ

Vì vậy, ngôn ngữ được xem là phương thức thể hiện suy nghĩ của con người với những tác động của môi trường xung quanh, khi một trong các yếu tố tham gia vào chu trình hình thành ngôn ngữ bị tổn thương sẽ dẫn đến rối loạn về phát triển ngôn ngữ của con người.

Hay nói cách khác, rối loạn ngôn ngữ là những rối loạn tại vùng não bộ có chức năng xử lý ngôn ngữ, làm cho việc xử lý và tiếp nhận thông tin ngôn ngữ bị suy giảm. Dẫn đến khó khăn trong quá trình giao tiếp cũng như việc hiểu và biểu đạt bằng lời nói.

Rối loạn ngôn ngữ xảy ra ở đối tượng nào? 

Những đối tượng bị rối loạn ngôn ngữ thường gặp phải các vấn đề liên quan đến biểu đạt ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết, việc hiểu ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc bất cứ khía cạnh nào khác của ngôn ngữ.

Rối loạn ngôn ngữ xảy ra ở hai nhóm đối tượng đó là trẻ em và người trưởng thành. Tuy nhiên, trẻ em là đối tượng thường xảy ra rối loạn ngôn ngữ hơn so với người trưởng thành.

Các nghiên cứu cho thấy trẻ em có trí tuệ tốt thường có sự phát triển ngôn ngữ rất nhanh trong quá trình học tập ngôn ngữ và phụ thuộc theo từng độ tuổi, giai đoạn nhất định. Chứng bệnh thường xảy ra đối với trẻ dưới 5 tuổi và có khoảng 3 – 5% trẻ em có rối loạn về tiếp thu, bày tỏ ngôn ngữ hoặc cả hai.

Rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành mà xuất phát từ rối loạn ở hệ thần kinh não bộ trong quá trình phát triển thường xảy ra ít hơn, chủ yếu là các trường hợp khi bệnh nhân mắc bệnh từ nhỏ nhưng không được chữa khỏi bệnh hoặc do di truyền.

Biểu hiện rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em

Rối loạn ngôn ngữ

 

  • Rối loạn tiếp nhận ngôn ngữ: Trẻ thường có biểu hiện chậm hiểu, khó tiếp thu lời nói, sự truyền đạt của người khác.
  • Rối loạn về phát âm: Trẻ sẽ gặp khó khăn trong cách phát âm những từ, những câu thông thường.
  • Các trường hợp khác: Trẻ tự nói một mình, phát âm vô nghĩa, nhại lại lời nói hoặc nói lộn xộn. Nhìn chung, cha mẹ cần phải quan tâm đối với sự phát triển trong giao tiếp hằng ngày của trẻ, do các biểu hiện của sự rối loạn ngôn ngữ ở trẻ không được rõ ràng.
  • Khả năng nghe và nói của trẻ đều kém so với các bạn cùng độ tuổi: Bình thường trong giai đoạn từ 2 – 3 tháng, trẻ bắt đầu phát ra được âm họng; giai đoạn 7 – 9 tháng sẽ bập bẹ tập nói; từ 12 – 15 tháng, trẻ sẽ nói được một vài từ đơn giản; từ 2 – 3 tuổi, trẻ nói được những câu đơn giản và dần nói được câu dài hơn. Như vậy, khi lên 4 tuổi là hệ thống ngôn ngữ của trẻ cơ bản đã có thể tiếp nhận thông tin để có thể giao tiếp được. Tuy nhiên, ở những trẻ có biểu hiện rối loạn ngôn ngữ thường không giao tiếp được hoặc không nói được những câu dài như những trẻ có hệ thống ngôn ngữ phát triển bình thường.
  • Không thực hiện theo được những lời dạy bảo của cha mẹ: Trẻ hay tỏ ra không lắng nghe khi có người nói chuyện với trẻ hoặc không hiểu được những lời chỉ dạy từ thầy cô hoặc không có hứng thú khi giao tiếp với cha mẹ, người thân, bạn bè xung quanh.
  • Gặp khó khăn trong việc nói và viết ngôn ngữ: Trẻ thường gặp khó khăn khi học từ và phát âm, thường quên từ hoặc chế từ khác thay thế, thậm chí không nhớ thông tin trong cuộc nói chuyện vừa xảy ra. Có xu hướng chỉ sử dụng những câu ngắn, đơn giản khi giao tiếp hoặc lẫn lộn thứ tự và thậm chí không nhớ tên gọi của các từ có liên quan với nhau.
  • Không hiểu được ý nghĩa của câu nói: Trẻ dễ bị mất tập trung, xao nhãn khi có tiếng ồn chi phối dù chỉ là tiếng ồn nhẹ, trong giao tiếp thường sẽ hiểu mọi thứ theo hướng tối nghĩa hay không hiểu được nghĩa ẩn dụ của câu, không hiểu những câu nói phức tạp.

Rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành

Phần lớn rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành do gặp phải các bệnh lý nặng hoặc bị chấn thương vùng não bộ. Những biểu hiện rối loạn ngôn ngữ ở người trưởng thành thường gặp phải như sau:

rối loạn ngôn ngữ ở người lớn

  • Có những cử chỉ lạ trong giao tiếp: Người bệnh thường có các cử động giật ở đầu trong khi nói chuyện, nói lắp, nhấp nháy mắt nhiều lần, giọng nói khàn hoặc âm thanh, từ kéo dài, thường dừng nghỉ nhiều lần khi giao tiếp.
  • Gặp khó khăn trong việc biểu đạt ngôn ngữ: Người bệnh nhận thức được những gì muốn nói hoặc biết sẵn câu trả lời nhưng không thể nói lên suy nghĩ của bản thân, không thể trả lời được theo đúng ý mong muốn. Khi trình bày thì không bày tỏ, diễn đạt được tròn ý theo đúng nghĩa của câu hoặc không theo kịp trong các cuộc họp khi có nhiều người phát biểu ý kiến.
  • Nghiêm trọng hóa vấn đề: Người bệnh có xu hướng nghiêm trọng hóa vấn đề, làm phức tạp những câu nói bình thường. Khi được người khác đặt câu hỏi thì người bệnh thường sẽ lặp lại các câu hỏi khi suy nghĩ và trả lời.
  • Gặp khó khăn với các vấn đề có tính chỉ dẫn: Người bệnh cảm thấy khó khăn trong việc làm theo các hướng dẫn, chỉ dẫn phức tạp và cảm thấy không biết giải quyết sao.

Các dạng rối loạn ngôn ngữ thường gặp

Rối loạn vận ngôn

Người mắc rối loạn vận ngôn thường do di chứng sau tai biến mạch máu não hoặc các chấn thương ở vùng não bộ như chấn thương sọ não, liệt não,… làm ảnh hưởng đến dây thần kinh vận động ở cơ miệng, mắt, thanh quản hoặc hệ thống hô hấp suy yếu. Bệnh nhân vẫn có thể hiểu được những lời nói thông thường, tuy nhiên lại gặp khó khăn khi nói hoặc phát âm.

Rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận

Người mắc rối loạn ngôn ngữ tiếp nhận thường sẽ không thể tiếp thu hoặc không hiểu được những thông tin từ người khác qua lời nói, mất hoàn toàn khả năng tiếp nhận ngôn ngữ. Họ thường sẽ gặp khó khăn trong việc đọc chữ và hiểu ngữ nghĩa, tuy nhiên vẫn có thể biểu đạt được những suy nghĩ, mong muốn bên trong của bản thân.

Rối loạn ngôn ngữ biểu cảm

Người bị rối loạn ngôn ngữ biểu cảm thường có vấn đề trong cách nói chuyện, diễn đạt lời nói, cảm thấy khó khăn trong việc chọn lọc từ ngữ để giao tiếp và thường phải suy nghĩ lâu để đưa ra những câu nói đơn giản. Tuy nhiên, họ vẫn có thể hiểu, tiếp nhận ngôn ngữ và nói chuyện được với mọi người xung quanh.

rối loạn ngôn ngữ

Nguyên nhân gây rối loạn ngôn ngữ

Hiện nay, nguyên nhân gây rối loạn ngôn ngữ vẫn chưa được xác định rõ, tuy nhiên, phần lớn người mắc chứng rối loạn ngôn ngữ đều do sự ảnh hưởng từ các yếu tố như di truyền, những khiếm khuyết về hệ thống chức năng ngôn ngữ của não bộ, tổn thương não bộ, bệnh lý nặng hoặc khó tiếp thu ngôn ngữ thường đi kèm với những khuyết tật phát triển như bệnh tự kỷ, trầm cảm,…

Tai biến mạch máu não

Đây được xem là nguyên nhân gián tiếp hàng đầu dẫn đến việc rối loạn ngôn ngữ. Người bệnh tai biến mạch máu não thường dễ để lại di chứng nếu không được chữa trị kịp thời, do quá trình cung cấp máu cho não bộ bị ngưng đột ngột gây rối loạn chức năng của các vùng não, gây tổn thương cho vùng điều khiển ngôn ngữ và dẫn đến rối loạn trong việc phát âm, vận động cơ mặt, hoặc không thể nói được.

Tổn thương não bộ

Có nhiều nguyên nhân gây tổn thương não bộ như chấn thương sọ não do tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bạo lực, hoặc bị va đập mạnh tại vùng đầu.

Tất cả những tác động bên ngoài đó làm tổn thương lên vùng sọ não, làm đứt dây thần kinh và để lại di chứng trong đó có di chứng rối loạn ngôn ngữ khi dây thần kinh tại vùng điều khiển ngôn ngữ bị tổn thương. Lúc này người bệnh gặp các khó khăn trong giao tiếp, kết nối với mọi người xung quanh hay hòa nhập với cộng đồng.

Các bệnh lý não bộ khác hoặc do di truyền: Các bệnh lý não bộ khác như bị viêm não, viêm màng não, u não, hoặc bị rối loạn tâm lý mà không được cấp cứu và chữa trị kịp thời cũng có thể để lại di chứng não.

Phương pháp điều trị rối loạn ngôn ngữ

Phương pháp tốt nhất để điều trị rối loạn ngôn ngữ ở trẻ nhỏ là cha mẹ phải phát hiện sớm những biểu hiện về ngôn ngữ, giao tiếp ở trẻ khi đến độ tuổi phát triển ngôn ngữ để kịp thời chữa trị.

Đối với trẻ em

Giúp trẻ phát triển hệ thống ngôn ngữ từ sớm

Cha mẹ nên tiếp xúc, nói chuyện thường xuyên với trẻ bằng cách bắt đầu giao tiếp trực tiếp với trẻ từ khi mới sinh ra, đáp lại những tiếng bập bẹ, ú ớ của trẻ. Kiên nhẫn lắng nghe và dành thời gian đặt câu hỏi, mở rộng lời nói hoặc đọc tên những đồ vật, hành động, cử chỉ khi chơi cùng với trẻ. Hạn chế cho trẻ từ 0 – 3 tuổi tiếp xúc với các thiết bị điện tử vì đây là giai đoạn trẻ em bắt đầu xây dựng những cơ sở về khả năng ngôn ngữ.

Áp dụng các bài tập cải thiện 

Đọc sách nhằm trao đổi nội dung nhân vật trong câu chuyện với trẻ, mô tả tranh ảnh bằng cách in các hình ảnh màu và cho trẻ mô tả chi tiết, gọi tên đồ vật hoặc hát cho trẻ nghe. Cho trẻ tìm từ đồng nghĩa – trái nghĩa hoặc liệt kê danh mục các từ cùng chủ đề và hướng dẫn trẻ liệt kê theo các chủ đề chính đó.

Nhờ sự giúp đỡ từ các chuyên gia, hoặc theo phác đồ điều trị của bác sĩ

Các chuyên gia, Bác sĩ sẽ đưa ra những phương pháp trị liệu bằng ngôn ngữ, tùy thuộc vào mức độ của bệnh, sau đó áp dụng các bài tập để cải thiện giọng nói, tập thở, giao tiếp,…

Đối với người trưởng thành

Tạo động lực, tinh thần cho người bệnh

Tinh thần của người bị các di chứng từ bệnh lý trước để lại là rất nguy hiểm, do đó người nhà phải thường xuyên động viên, chia sẻ, trò chuyện với người bệnh, giúp họ cảm thấy bản thân còn có thể giao tiếp được và quan trọng không được tạo tâm lý cho người bệnh cảm thấy cần được chăm sóc.

Tập luyện phục hồi chức năng

Việc tập luyện phục hồi có hiệu quả nhất trong vòng 6 tháng kể từ khi bệnh khởi phát. Người bệnh thường sẽ được hướng dẫn chơi các trò chơi giúp tăng khả năng ngôn ngữ như tập nói, tập gọi tên các đồ vật xung quanh hoặc các bài tập giãn cơ mặt đồng thời kết hợp với các bài tập vận động tay chân để mang lại hiệu quả tốt nhất.

Trên đây là các chia sẻ của bác sĩ tâm lý về nguyên nhân, dấu hiệu và phương pháp điều trị rối loạn ngôn ngữ ở trẻ em và người lớn. Nếu thấy mình, bạn bè hoặc người thân có các triệu chứng kể trên thì hãy liên hệ ngay với đội ngũ bác sĩ/chuyên gia tâm lý của chúng tôi để được tư vấn kịp thời.

Rối Loạn Hoảng Sợ Là Gì? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng Thường Gặp

Rối loạn hoảng sợ từ lâu đã được biết đến là một chứng bệnh tâm lý liên quan đến trạng thái cảm xúc của con người. Rối loạn hoảng sợ không tương đồng với nỗi sợ hãi thông thường mà thường là sự sợ hãi, cơn hoảng loạn xuất hiện thường xuyên cho dù không xuất hiện tác nhân thực tế.

Cụ thể, rối loạn hoảng sợ là gì và làm thế nào để cải thiện chứng bệnh tâm lý này? Hãy cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây!

Rối loạn hoảng sợ là gì?

Rối loạn hoảng sợ là chứng bệnh tâm lý thuộc nhóm các rối loạn lo âu. Sở dĩ, chúng ta gọi là rối loạn hoảng sợ vì đây là tình trạng hoảng sợ, sợ hãi đến mức cực độ của người bệnh, là sự lo sợ điều tồi tệ sẽ xảy ra một cách thường xuyên, lặp đi lặp lại nhiều lần mà không rõ lý do cụ thể.

Thậm chí, rối loạn hoảng sợ không chỉ là trạng thái tâm lý mà còn xuất hiện triệu chứng thể chất rõ ràng như nhịp tim tăng nhanh, khó thở, đổ mồ hôi liên tục. Cơn hoảng sợ có thể bỗng dưng xuất hiện ở bất cứ nơi nào mà không được báo trước, do đó người bệnh thường có xu hướng né tránh nơi thường xuất hiện tình trạng hoảng sợ đột ngột. Với những người tình trạng bệnh có diễn biến nặng, họ sẽ từ chối rời khỏi nhà để có cảm giác an toàn.

Theo nghiên cứu được công bố tại Mỹ thì cứ 10 người trưởng thành sẽ có 1 người mắc chứng rối loạn hoảng sợ mỗi năm. Chứng bệnh này thường bắt đầu xuất hiện và kéo dài từ năm 15- 25 tuổi và xuất hiện ở 3% người trưởng thành.

rối loạn hoảng sợ

Nguyên nhân gây nên chứng rối loạn hoảng sợ

Cho đến nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa tìm được nguyên nhân cụ thể dẫn đến chứng rối loạn hoảng sợ của con người. Tuy nhiên, thông qua một vài nghiên cứu, người ta đã chỉ ra rằng chứng bệnh tâm lý này có thể liên quan đến yếu tố di truyền nhưng chưa được khẳng định chắc chắn.

Bên cạnh đó, chứng rối loạn hoảng sợ cũng liên quan đến một số thay đổi nhất định trong cuộc sống con người, chẳng hạn như bỏ học, kết hôn, sinh con, ly hôn… Nhìn chung, những chuyển biến lớn trong cuộc đời thường tạo ra căng thẳng và dẫn đến sự phát triển của chứng bệnh. Ngoài ra, các chất kích thích như caffeine, nicotine và một số chất khác có thể làm tăng các cơn hoảng loạn.

rôi loạn hoảng sợ

Triệu chứng của tình trạng rối loạn hoảng sợ

Các triệu chứng của rối loạn hoảng sợ thường bắt đầu xuất hiện ở thanh niên ở độ tuổi từ 15- 25, chủ yếu là từ 20-25 tuổi. Một người có thể được xác định mắc chứng rối loạn hoảng sợ khi xuất hiện ít nhất 4 cơn hoảng sợ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần và thể chất nhưng không có lý do rõ ràng. Chúng ta có thể nhắc đến một số triệu chứng phổ biến của chứng bệnh này dưới đây!

  • Trạng thái cơ thể cảm nhận sự nguy hiểm đang đến gần
  • Nhịp tim bắt đầu đập mạnh và tăng nhanh hơn
  • Cơ thể đổ nhiều mồ hôi
  • Bắt đầu xuất hiện sự lo lắng, run rẩy
  • Khó thở, cảm giác co thắt cổ họng
  • Đau đầu, có cảm giác chóng mặt hoặc ngất xỉu
  • Có cảm giác buồn nôn hoặc đau dạ dày
  • Cảm thấy tức ngực, lo lắng cực độ
  • Cảm thấy cơ thể trải qua từng đợt ớn lạnh hoặc nóng nực
  • Mất kiểm soát hành vi, cử chỉ và tốc độ nói
  • Có xu hướng siết chặt hai tay để tạo cảm giác có chỗ “bám víu”.

Những ai có nguy cơ mắc rối loạn hoảng sợ?

Chứng rối loạn hoảng sợ thường xuất hiện ở tuổi thanh thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành, tuy nhiên nữ giới sẽ có tỷ lệ mắc chứng rối loạn hoảng sợ nhiều hơn nam giới. Hiện nay, chúng ta có thể xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển các cơn rối loạn hoảng sợ dưới đây:

  • Người có tiền sử gia đình đã từng mắc rối loạn hoảng sợ
  • Người gặp phải căng thẳng trong cuộc sống, đối diện với cái chết cận kề hoặc người thân thiết mắc bệnh nặng
  • Từng đối mặt với một sự kiện đau buồn ở quá khứ như bị tấn công tình dục hoặc gặp tai nạn nghiêm trọng.
  • Gặp thay đổi lớn trong cuộc đời như ly hôn, trầm cảm sau sinh.
  • Người thường xuyên sử dụng chất kích thích
  • Người có tiền sử bị lạm dụng thể chất hoặc lạm dụng tình dục vào thời thơ ấu.

sợ hãi

Biện pháp phòng ngừa 

Vì là một chứng bệnh tâm lý nên chúng ta không thể chắc chắn chứng bệnh sẽ được ngăn chặn hoàn toàn. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo một số biện pháp phòng ngừa dưới đây: 

  • Điều trị cơn hoảng sợ càng sớm càng tốt để ngăn chặn tình trạng trở nên tồi tệ hơn 
  • Theo sát quá trình điều trị để ngăn chặn chuyển biến xấu của căn bệnh và ngăn chặn bệnh tái phát. 
  • Hoạt động thể chất thường xuyên 

Mức độ nguy hiểm của chứng rối loạn hoảng sợ

Theo thống kê của Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia Hoa Kỳ (NIMH), mỗi năm có khoảng hơn 2,7% dân số Mỹ sau khi bước vào giai đoạn trưởng thành đều ít nhất một lần mắc chứng rối loạn hoảng sợ. Trong đó, có hơn 44,8% người mắc chứng rối loạn hoảng sợ nghiêm trọng và cần đến sự can thiệp của bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý.

Vì là một chứng bệnh tâm lý điển hình nên rối loạn hoảng sợ đa phần sẽ gây ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của con người. Cụ thể, chứng bệnh có thể dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm sau:

  • Phát triển các ám ảnh cụ thể, chẳng hạn như sợ hãi khi lái xe hoặc rời khỏi nhà
  • Có xu hướng trốn tránh xã hội
  • Gặp nhiều vấn đề ở trường học hoặc nơi làm việc
  • Có nguy cơ dẫn đến trầm cảm, rối loạn lo âu và các rối loạn tâm thần khác
  • Tăng nguy cơ tự tử hoặc suy nghĩ tự tử
  • Lạm dụng rượu hoặc các chất kích thích

Khi trạng thái tinh thần bị hoảng loạn, bản thân chúng ta cũng rất khó để có sức khỏe ổn định, thậm chí là gây hại cho những người xung quanh. Chẳng hạn, nếu cơn hoảng sợ diễn ra bất chợt trong lúc người bệnh đang lái xe thì khả năng rất cao người bệnh sẽ gây ra tai nạn, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và những người xung quanh.

Tiêu chuẩn để chẩn đoán chứng rối loạn hoảng sợ

Thực tế, không phải ai xuất hiện các cơn hoảng sợ cũng đều mắc chứng rối loạn hoảng sợ. Vì vậy, bạn cần tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý để được thực hiện chẩn đoán chính xác triệu chứng của bệnh. Theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-5) xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, bệnh hoảng sợ được chẩn đoán qua những yếu tố cụ thể dưới đây:

  • Người bệnh thường có những cơn hoảng loạn bất ngờ
  • Các cơn hoảng sợ không hình dành do sử dụng chất kích thích hoặc rối loạn vì trạng thái tâm thần khác như ám ảnh xã hội.
  • Trạng thái sợ hãi của bạn đã xuất hiện thường xuyên và kéo dài ít nhất trong một tháng gần đây. Người bệnh thường lo lắng bản thân sẽ bị tấn công, do đó có sự thay đổi hành vi nhất định như không ra khỏi nhà, tránh những tình huống bản thân cảm thấy nguy hiểm…

Một số phương pháp điều trị chứng rối loạn hoảng sợ

Mặc dù chứng rối loạn hoảng sợ không gây nguy hiểm quá lớn cho người bệnh, tuy nhiên nếu bạn không có cách điều trị kịp thời thì có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Việc điều trị đúng cách sẽ có thể giúp bạn giảm cường độ và tần suất của các cơn hoảng sợ, từ đó cải thiện dần chức năng trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể, tùy vào triệu chứng bệnh của bạn, chuyên gia sẽ định hướng để bạn điều trị bằng phương pháp tâm lý trị liệu hoặc sử dụng thuốc.

Tâm lý trị liệu

Tâm lý trị liệu hay còn được biết đến là liệu pháp trò chuyện, đây là phương pháp điều trị được ưu tiên để cải thiện chứng hoảng sợ của một cá nhân. Với liệu pháp này, nhà tâm lý sẽ trò chuyện, hỗ trợ để người bệnh tự hiểu được nguyên nhân hình thành bệnh, từ đó học cách tự đối phó với cơn hoảng sợ đó.

Trong tâm lý trị liệu, chuyên gia tâm lý có thể áp dụng liệu pháp hành vi nhận thức để hỗ trợ thân chủ. Cụ thể, chuyên gia tâm lý trị liệu sẽ giúp người bệnh cố nhớ lại các triệu chứng của chứng hoảng sợ theo xu hướng an toàn và lặp đi lặp lại nhiều lần.

Liệu pháp này sẽ khiến người bệnh thông qua kinh nghiệm của bản thân phát hiện cá triệu chứng hoảng sợ không hề gây nguy hiểm cho mình. Khi bản thân người bệnh không còn cảm thấy bị đe dọa bởi các đơn hoảng sợ, người bệnh sẽ dễ dàng đối mặt với những tình huống có thể hình thành nên cơn hoảng sợ trước đó.

Sử dụng thuốc

Sử dụng thuốc để giảm các triệu chứng liên quan đến hoảng sợ cũng là một phương pháp hiệu quả mà các bác sĩ sẽ sử dụng để hỗ trợ bệnh nhân. Tuy nhiên, đa phần bác sĩ sẽ chỉ kê đơn thuốc thì tình trạng bệnh của bệnh nhân có chuyển biến không mấy tích cực, cần sử dụng thuốc để kiểm soát các triệu chứng bệnh. Chúng ta có thể nhắc đến một số loại thuốc dưới đây:

  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI): Những loại thuốc này được bác sĩ đánh giá tương đối an toàn và có ít nguy cơ xuất hiện tác dụng phụ cho người bệnh. Thuốc SSRI thường là loại dược phẩm đầu tiên mà bác sĩ sẽ kê đơn cho bệnh nhân sử dụng vì mức độ an toàn đã được kiểm chứng. Loại thuốc này đã được FDA phê duyệt để điều trị bao gồm: fluoxetine (Prozac), paroxetine (Paxil, Pexeva) và sertraline (Zoloft).
  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine (SNRI): Đây là nhóm thuốc chống trầm cảm đã được FDA chấp nhận để điều trị.
  • Thuốc an thần benzodiazepine: Đây là loại thuốc có khả năng ức chế hệ thần kinh trung ương của con người, thường được dùng ngắn hạn vì thuốc có thể hình thành thói quen. Hiện nay, benzodiazepine đã được FDA chấp thuận sử dụng để điều trị.

Kết luận

Tùy vào trạng thái tâm lý và sức khỏe thể chất của bạn, bác sĩ tâm lý sẽ đưa ra những giải pháp điều trị an toàn nhất. Do đó, hãy trao đổi kỹ với bác sĩ về tác dụng phụ và rủi ro có thể xảy ra trước khi điều trị bằng thuốc.

Hội Chứng Tự Hủy Hoại Bản Thân: Mối Nguy Hiểm Với Giới Trẻ

Tự hủy hoại bản thân là một hội chứng cực kỳ nguy hiểm, đã xuất hiện và đang lan rộng dần trong giới trẻ ngày nay. Tạp chí y khoa Hoa Kỳ JAMA đã có một báo cáo về vấn nạn này với số liệu thống kê ước tính số bệnh nhân nhập viện vì tự hủy hoại mỗi năm tăng 18,8%. Vậy tại sao nhiều người lại có hành vi tự hủy hoại bản thân và chúng ta nên làm gì nếu có người thân mắc phải hội chứng này?

Tự hủy hoại bản thân là gì?

Tự hủy hoại bản thân (hay còn gọi là tự hại hoặc tự gây thương tích) là một tình trạng bệnh lý mà người bệnh có những hành vi tự gây tổn thương cho bản thân mình nhưng không có ý định tự tử. Đó có thể là hành vi tự làm cơ thể bị thương về mặt thể chất như đấm vào tường, dùng vật sắc nhọn cắt vào da thịt, đập đầu vào vật cứng, tự đốt da đến mức bị bỏng, tự cào cấu… Hoặc cũng có thể là việc tham gia vào các hoạt động không an toàn như lạm dụng chất kích thích, quan hệ tình dục bừa bãi… 

Nhìn chung, người mắc hội chứng này thường thực hiện nhiều cách để làm bản thân tổn thương, đau đớn thể xác. Vì vậy mà trên người họ luôn có nhiều vết thương, từ vết cắt mới đến vết sẹo cũ. Và họ luôn tìm cách che giấu các vết thương đó bằng cách mặc quần áo dài hoặc phụ kiện như mũ, khăn. Khi bị phát hiện, họ sẽ bịa ra một số lý do để giải thích cho các vết thương bất thường của mình.

tự hủy hoại bản thân

Nguyên nhân dẫn tới hội chứng tự hủy hoại bản thân

Nhiều người có thể sẽ thấy khó hiểu vì sao những người mắc hội chứng này lại muốn làm bản thân đau đớn, tổn thương nhiều như vậy. Theo nhiều nghiên cứu cho rằng, có hai nguyên nhân chính có thể dẫn đến hành vi tự hủy hoại. 

Giải tỏa cảm xúc tiêu cực

Nguyên nhân phổ biến nhất là tự hủy hoại để giải tỏa cảm xúc tiêu cực, giảm bớt nỗi đau tinh thần. Ở những trường hợp này, người bệnh đã trải qua một khoảng thời gian khó khăn với những nỗi đau tâm lý bên trong. Họ có thể đã bị căng thẳng quá mức, cô đơn quá mức hoặc phải trải qua một sự kiện sang chấn nào đó.

Họ mất khả năng điều chỉnh và bày tỏ cảm xúc của mình, trở nên cô đơn, mất kết nối với người khác. Một số nghiên cứu nói rằng, hành vi tự hủy hoại bản thân tạo ra các chất gây tê tự nhiên trong cơ thể, có khả năng tự xoa dịu những nỗi đau tinh thần. Một số trường hợp khác chia sẻ rằng, họ dùng nỗi đau thể xác để tự đánh lạc hướng bản thân, quên đi nỗi đau tâm lý bên trong. Vì vậy mà bệnh nhân thường lặp đi lặp lại hành vi tự hại nhiều lần để thỏa mãn nhu cầu của mình. 

Tìm kiếm sự quan tâm chú ý

Nguyên nhân thường gặp khác là tìm kiếm sự quan tâm chú ý từ những người xung quanh. Đó là khi mà người bệnh quá cô đơn, không được quan tâm đầy đủ hoặc thiếu tình thương lâu ngày nhưng không tìm được cách nào để an ủi bản thân. Từ đó họ chọn phương án tiêu cực là tự tổn hại bản thân để nhận được sự chú ý và quan tâm mà họ mong muốn.

Nhiều người mắc hội chứng tự hủy hoại bản thân cho biết, việc gây ra các vết thương thể xác giúp họ nhẹ nhõm ngay lập tức, nhưng chỉ là tạm thời. Khi cơn đau qua đi, các cảm xúc tiêu cực vẫn còn nguyên vẹn, kèm theo đó là cảm giác tội lỗi, xấu hổ, tự ghét bỏ chính mình. Mặc dù vậy, họ vẫn không ngừng làm bản thân bị thương vì không biết cách đối phó nào khác nữa.

tự hủy hoại bản thân

Sự phát triển của Internet

Sự phát triển của internet cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp. Với sự đa dạng thông tin của thế giới mở và năng lực tiếp cận công nghệ nhanh nhạy, người trẻ hoàn toàn có thể tìm thấy rất nhiều nội dung cổ vũ, hướng dẫn tự hủy hoại bản thân trên các trang mạng xã hội.

Người có rối loạn tâm lý thường che giấu vấn đề của mình với người thân, thay vào đó thường ẩn danh để tìm kiếm sự giúp đỡ từ cộng đồng mạng. Nếu họ tìm thấy kênh thông tin hỗ trợ điều trị, họ sẽ được chia sẻ và giúp đỡ lành mạnh.

Tuy nhiên, nếu họ tìm thấy những cộng đồng ủng hộ hành vi tự gây tổn hại bản thân, họ sẽ càng được cổ vũ và hướng dẫn như đó là một hành vi bình thường. Kết quả, họ có thể càng ngày càng lún sâu vào vũng lầy của mình.

Tại sao tỉ lệ người trẻ tự hủy hoại bản thân ngày càng tăng?

Độ tuổi phổ biến xuất hiện hành vi tự hại bản thân được cho là từ 12 đến 24 tuổi. Một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy hành vi tự hủy hoại ở người lớn chiếm tỉ lệ 4%, ở thanh niên là 15%, còn ở sinh viên chiếm đến 17-35%. Hành vi tự gây thương tích cũng được tìm thấy ở những người nghiện rượu và nghiện ma túy. Tuy nhiên, tình trạng tự hại ở trẻ em tuổi dậy thì và học sinh sinh viên vẫn đáng báo động nhất.

Có thể nói, những áp lực tiêu cực từ gia đình, trường học và các mối quan hệ xung quanh thường gây ra cho giới trẻ những cảm giác căng thẳng, ức chế kéo dài và là nguyên nhân chính gây ra trầm cảm ở tuổi dậy thì.

Trong khi ở lứa tuổi này, các em chưa được vững vàng về nhận thức và tâm lý để có thể quản lý cảm xúc bản thân hoặc đối phó với những tình huống khó khăn. Khi trạng thái ức chế tâm lý kéo dài không được loại trừ, người bệnh không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, họ lại tìm cơn thỏa mãn trong những nỗi đau thể xác.

tự hủy hoại bản thân

Cách xử trí khi người thân có dấu hiệu tự hủy hoại

Khi nhận thấy hoặc nghi ngờ người thân có các triệu chứng tự gây tổn thương bản thân, bạn cần đưa họ đến chuyên khoa tâm thần của các cơ sở y tế để được điều trị sớm. Vì đây là hành vi nguy hiểm và có thể tái diễn nhiều lần, nên càng can thiệp sớm càng giảm bớt tổn thương cho người bệnh.

Bác sĩ sẽ giúp bệnh nhân và người nhà tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, từ đó điều chỉnh những nhận thức chưa đúng hoặc chữa lành các tổn thương tâm lý. Chỉ khi giải quyết nguyên nhân cốt lõi bên trong thì người bệnh mới có thể chấm dứt hành vi nguy hiểm của mình.

Người nhà bệnh nhân cũng cần có phản ứng bình tĩnh, không trách móc, la mắng. Hãy xem lại các mối quan hệ xung quanh người bệnh xem liệu có điều gì gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến họ hay không để điều chỉnh kịp thời. Tích cực phối hợp với bác sĩ giúp đỡ bệnh nhân chấm dứt triệt để nguyên nhân gây bệnh.

Tự hủy hoại bản thân là một trong những hội chứng của xã hội hiện đại. Mặc dù nguy hiểm đáng kể, nhưng nếu được chữa trị kịp thời bằng các biện pháp phù hợp, người bệnh hoàn toàn có thể thoát khỏi được hội chứng này và học được cách đối phó lành mạnh với những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Nếu cảm thấy khó khăn trong cuộc sống hãy liên hệ với đội ngũ bác sĩ/chuyên gia tâm lý của chúng tôi để nhận được những lời khuyên và liệu trình điều trị phù hợp nhất.

1900 1246 Bản đồ
Liên hệ Zalo Hellodoctors.vn