Rối Loạn Hoảng Sợ Là Gì? Nguyên Nhân Và Triệu Chứng Thường Gặp

Rối loạn hoảng sợ từ lâu đã được biết đến là một chứng bệnh tâm lý liên quan đến trạng thái cảm xúc của con người. Rối loạn hoảng sợ không tương đồng với nỗi sợ hãi thông thường mà thường là sự sợ hãi, cơn hoảng loạn xuất hiện thường xuyên cho dù không xuất hiện tác nhân thực tế.

Cụ thể, rối loạn hoảng sợ là gì và làm thế nào để cải thiện chứng bệnh tâm lý này? Hãy cùng tìm hiểu ngay trong bài viết dưới đây!

Rối loạn hoảng sợ là gì?

Rối loạn hoảng sợ là chứng bệnh tâm lý thuộc nhóm các rối loạn lo âu. Sở dĩ, chúng ta gọi là rối loạn hoảng sợ vì đây là tình trạng hoảng sợ, sợ hãi đến mức cực độ của người bệnh, là sự lo sợ điều tồi tệ sẽ xảy ra một cách thường xuyên, lặp đi lặp lại nhiều lần mà không rõ lý do cụ thể.

Thậm chí, rối loạn hoảng sợ không chỉ là trạng thái tâm lý mà còn xuất hiện triệu chứng thể chất rõ ràng như nhịp tim tăng nhanh, khó thở, đổ mồ hôi liên tục. Cơn hoảng sợ có thể bỗng dưng xuất hiện ở bất cứ nơi nào mà không được báo trước, do đó người bệnh thường có xu hướng né tránh nơi thường xuất hiện tình trạng hoảng sợ đột ngột. Với những người tình trạng bệnh có diễn biến nặng, họ sẽ từ chối rời khỏi nhà để có cảm giác an toàn.

Theo nghiên cứu được công bố tại Mỹ thì cứ 10 người trưởng thành sẽ có 1 người mắc chứng rối loạn hoảng sợ mỗi năm. Chứng bệnh này thường bắt đầu xuất hiện và kéo dài từ năm 15- 25 tuổi và xuất hiện ở 3% người trưởng thành.

rối loạn hoảng sợ

Nguyên nhân gây nên chứng rối loạn hoảng sợ

Cho đến nay, các chuyên gia nghiên cứu vẫn chưa tìm được nguyên nhân cụ thể dẫn đến chứng rối loạn hoảng sợ của con người. Tuy nhiên, thông qua một vài nghiên cứu, người ta đã chỉ ra rằng chứng bệnh tâm lý này có thể liên quan đến yếu tố di truyền nhưng chưa được khẳng định chắc chắn.

Bên cạnh đó, chứng rối loạn hoảng sợ cũng liên quan đến một số thay đổi nhất định trong cuộc sống con người, chẳng hạn như bỏ học, kết hôn, sinh con, ly hôn… Nhìn chung, những chuyển biến lớn trong cuộc đời thường tạo ra căng thẳng và dẫn đến sự phát triển của chứng bệnh. Ngoài ra, các chất kích thích như caffeine, nicotine và một số chất khác có thể làm tăng các cơn hoảng loạn.

rôi loạn hoảng sợ

Triệu chứng của tình trạng rối loạn hoảng sợ

Các triệu chứng của rối loạn hoảng sợ thường bắt đầu xuất hiện ở thanh niên ở độ tuổi từ 15- 25, chủ yếu là từ 20-25 tuổi. Một người có thể được xác định mắc chứng rối loạn hoảng sợ khi xuất hiện ít nhất 4 cơn hoảng sợ, ảnh hưởng mạnh mẽ đến tinh thần và thể chất nhưng không có lý do rõ ràng. Chúng ta có thể nhắc đến một số triệu chứng phổ biến của chứng bệnh này dưới đây!

  • Trạng thái cơ thể cảm nhận sự nguy hiểm đang đến gần
  • Nhịp tim bắt đầu đập mạnh và tăng nhanh hơn
  • Cơ thể đổ nhiều mồ hôi
  • Bắt đầu xuất hiện sự lo lắng, run rẩy
  • Khó thở, cảm giác co thắt cổ họng
  • Đau đầu, có cảm giác chóng mặt hoặc ngất xỉu
  • Có cảm giác buồn nôn hoặc đau dạ dày
  • Cảm thấy tức ngực, lo lắng cực độ
  • Cảm thấy cơ thể trải qua từng đợt ớn lạnh hoặc nóng nực
  • Mất kiểm soát hành vi, cử chỉ và tốc độ nói
  • Có xu hướng siết chặt hai tay để tạo cảm giác có chỗ “bám víu”.

Những ai có nguy cơ mắc rối loạn hoảng sợ?

Chứng rối loạn hoảng sợ thường xuất hiện ở tuổi thanh thiếu niên hoặc đầu tuổi trưởng thành, tuy nhiên nữ giới sẽ có tỷ lệ mắc chứng rối loạn hoảng sợ nhiều hơn nam giới. Hiện nay, chúng ta có thể xác định được một số yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển các cơn rối loạn hoảng sợ dưới đây:

  • Người có tiền sử gia đình đã từng mắc rối loạn hoảng sợ
  • Người gặp phải căng thẳng trong cuộc sống, đối diện với cái chết cận kề hoặc người thân thiết mắc bệnh nặng
  • Từng đối mặt với một sự kiện đau buồn ở quá khứ như bị tấn công tình dục hoặc gặp tai nạn nghiêm trọng.
  • Gặp thay đổi lớn trong cuộc đời như ly hôn, trầm cảm sau sinh.
  • Người thường xuyên sử dụng chất kích thích
  • Người có tiền sử bị lạm dụng thể chất hoặc lạm dụng tình dục vào thời thơ ấu.

sợ hãi

Biện pháp phòng ngừa 

Vì là một chứng bệnh tâm lý nên chúng ta không thể chắc chắn chứng bệnh sẽ được ngăn chặn hoàn toàn. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo một số biện pháp phòng ngừa dưới đây: 

  • Điều trị cơn hoảng sợ càng sớm càng tốt để ngăn chặn tình trạng trở nên tồi tệ hơn 
  • Theo sát quá trình điều trị để ngăn chặn chuyển biến xấu của căn bệnh và ngăn chặn bệnh tái phát. 
  • Hoạt động thể chất thường xuyên 

Mức độ nguy hiểm của chứng rối loạn hoảng sợ

Theo thống kê của Viện Sức khỏe Tâm thần quốc gia Hoa Kỳ (NIMH), mỗi năm có khoảng hơn 2,7% dân số Mỹ sau khi bước vào giai đoạn trưởng thành đều ít nhất một lần mắc chứng rối loạn hoảng sợ. Trong đó, có hơn 44,8% người mắc chứng rối loạn hoảng sợ nghiêm trọng và cần đến sự can thiệp của bác sĩ, nhà trị liệu tâm lý.

Vì là một chứng bệnh tâm lý điển hình nên rối loạn hoảng sợ đa phần sẽ gây ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần của con người. Cụ thể, chứng bệnh có thể dẫn đến một số biến chứng nguy hiểm sau:

  • Phát triển các ám ảnh cụ thể, chẳng hạn như sợ hãi khi lái xe hoặc rời khỏi nhà
  • Có xu hướng trốn tránh xã hội
  • Gặp nhiều vấn đề ở trường học hoặc nơi làm việc
  • Có nguy cơ dẫn đến trầm cảm, rối loạn lo âu và các rối loạn tâm thần khác
  • Tăng nguy cơ tự tử hoặc suy nghĩ tự tử
  • Lạm dụng rượu hoặc các chất kích thích

Khi trạng thái tinh thần bị hoảng loạn, bản thân chúng ta cũng rất khó để có sức khỏe ổn định, thậm chí là gây hại cho những người xung quanh. Chẳng hạn, nếu cơn hoảng sợ diễn ra bất chợt trong lúc người bệnh đang lái xe thì khả năng rất cao người bệnh sẽ gây ra tai nạn, ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và những người xung quanh.

Tiêu chuẩn để chẩn đoán chứng rối loạn hoảng sợ

Thực tế, không phải ai xuất hiện các cơn hoảng sợ cũng đều mắc chứng rối loạn hoảng sợ. Vì vậy, bạn cần tìm đến bác sĩ hoặc chuyên gia tâm lý để được thực hiện chẩn đoán chính xác triệu chứng của bệnh. Theo sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần (DSM-5) xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ, bệnh hoảng sợ được chẩn đoán qua những yếu tố cụ thể dưới đây:

  • Người bệnh thường có những cơn hoảng loạn bất ngờ
  • Các cơn hoảng sợ không hình dành do sử dụng chất kích thích hoặc rối loạn vì trạng thái tâm thần khác như ám ảnh xã hội.
  • Trạng thái sợ hãi của bạn đã xuất hiện thường xuyên và kéo dài ít nhất trong một tháng gần đây. Người bệnh thường lo lắng bản thân sẽ bị tấn công, do đó có sự thay đổi hành vi nhất định như không ra khỏi nhà, tránh những tình huống bản thân cảm thấy nguy hiểm…

Một số phương pháp điều trị chứng rối loạn hoảng sợ

Mặc dù chứng rối loạn hoảng sợ không gây nguy hiểm quá lớn cho người bệnh, tuy nhiên nếu bạn không có cách điều trị kịp thời thì có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn.

Việc điều trị đúng cách sẽ có thể giúp bạn giảm cường độ và tần suất của các cơn hoảng sợ, từ đó cải thiện dần chức năng trong cuộc sống hàng ngày. Cụ thể, tùy vào triệu chứng bệnh của bạn, chuyên gia sẽ định hướng để bạn điều trị bằng phương pháp tâm lý trị liệu hoặc sử dụng thuốc.

Tâm lý trị liệu

Tâm lý trị liệu hay còn được biết đến là liệu pháp trò chuyện, đây là phương pháp điều trị được ưu tiên để cải thiện chứng hoảng sợ của một cá nhân. Với liệu pháp này, nhà tâm lý sẽ trò chuyện, hỗ trợ để người bệnh tự hiểu được nguyên nhân hình thành bệnh, từ đó học cách tự đối phó với cơn hoảng sợ đó.

Trong tâm lý trị liệu, chuyên gia tâm lý có thể áp dụng liệu pháp hành vi nhận thức để hỗ trợ thân chủ. Cụ thể, chuyên gia tâm lý trị liệu sẽ giúp người bệnh cố nhớ lại các triệu chứng của chứng hoảng sợ theo xu hướng an toàn và lặp đi lặp lại nhiều lần.

Liệu pháp này sẽ khiến người bệnh thông qua kinh nghiệm của bản thân phát hiện cá triệu chứng hoảng sợ không hề gây nguy hiểm cho mình. Khi bản thân người bệnh không còn cảm thấy bị đe dọa bởi các đơn hoảng sợ, người bệnh sẽ dễ dàng đối mặt với những tình huống có thể hình thành nên cơn hoảng sợ trước đó.

Sử dụng thuốc

Sử dụng thuốc để giảm các triệu chứng liên quan đến hoảng sợ cũng là một phương pháp hiệu quả mà các bác sĩ sẽ sử dụng để hỗ trợ bệnh nhân. Tuy nhiên, đa phần bác sĩ sẽ chỉ kê đơn thuốc thì tình trạng bệnh của bệnh nhân có chuyển biến không mấy tích cực, cần sử dụng thuốc để kiểm soát các triệu chứng bệnh. Chúng ta có thể nhắc đến một số loại thuốc dưới đây:

  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRI): Những loại thuốc này được bác sĩ đánh giá tương đối an toàn và có ít nguy cơ xuất hiện tác dụng phụ cho người bệnh. Thuốc SSRI thường là loại dược phẩm đầu tiên mà bác sĩ sẽ kê đơn cho bệnh nhân sử dụng vì mức độ an toàn đã được kiểm chứng. Loại thuốc này đã được FDA phê duyệt để điều trị bao gồm: fluoxetine (Prozac), paroxetine (Paxil, Pexeva) và sertraline (Zoloft).
  • Thuốc ức chế tái hấp thu serotonin và norepinephrine (SNRI): Đây là nhóm thuốc chống trầm cảm đã được FDA chấp nhận để điều trị.
  • Thuốc an thần benzodiazepine: Đây là loại thuốc có khả năng ức chế hệ thần kinh trung ương của con người, thường được dùng ngắn hạn vì thuốc có thể hình thành thói quen. Hiện nay, benzodiazepine đã được FDA chấp thuận sử dụng để điều trị.

Kết luận

Tùy vào trạng thái tâm lý và sức khỏe thể chất của bạn, bác sĩ tâm lý sẽ đưa ra những giải pháp điều trị an toàn nhất. Do đó, hãy trao đổi kỹ với bác sĩ về tác dụng phụ và rủi ro có thể xảy ra trước khi điều trị bằng thuốc.

Hội Chứng Tự Hủy Hoại Bản Thân: Mối Nguy Hiểm Với Giới Trẻ

Tự hủy hoại bản thân là một hội chứng cực kỳ nguy hiểm, đã xuất hiện và đang lan rộng dần trong giới trẻ ngày nay. Tạp chí y khoa Hoa Kỳ JAMA đã có một báo cáo về vấn nạn này với số liệu thống kê ước tính số bệnh nhân nhập viện vì tự hủy hoại mỗi năm tăng 18,8%. Vậy tại sao nhiều người lại có hành vi tự hủy hoại bản thân và chúng ta nên làm gì nếu có người thân mắc phải hội chứng này?

Tự hủy hoại bản thân là gì?

Tự hủy hoại bản thân (hay còn gọi là tự hại hoặc tự gây thương tích) là một tình trạng bệnh lý mà người bệnh có những hành vi tự gây tổn thương cho bản thân mình nhưng không có ý định tự tử. Đó có thể là hành vi tự làm cơ thể bị thương về mặt thể chất như đấm vào tường, dùng vật sắc nhọn cắt vào da thịt, đập đầu vào vật cứng, tự đốt da đến mức bị bỏng, tự cào cấu… Hoặc cũng có thể là việc tham gia vào các hoạt động không an toàn như lạm dụng chất kích thích, quan hệ tình dục bừa bãi… 

Nhìn chung, người mắc hội chứng này thường thực hiện nhiều cách để làm bản thân tổn thương, đau đớn thể xác. Vì vậy mà trên người họ luôn có nhiều vết thương, từ vết cắt mới đến vết sẹo cũ. Và họ luôn tìm cách che giấu các vết thương đó bằng cách mặc quần áo dài hoặc phụ kiện như mũ, khăn. Khi bị phát hiện, họ sẽ bịa ra một số lý do để giải thích cho các vết thương bất thường của mình.

tự hủy hoại bản thân

Nguyên nhân dẫn tới hội chứng tự hủy hoại bản thân

Nhiều người có thể sẽ thấy khó hiểu vì sao những người mắc hội chứng này lại muốn làm bản thân đau đớn, tổn thương nhiều như vậy. Theo nhiều nghiên cứu cho rằng, có hai nguyên nhân chính có thể dẫn đến hành vi tự hủy hoại. 

Giải tỏa cảm xúc tiêu cực

Nguyên nhân phổ biến nhất là tự hủy hoại để giải tỏa cảm xúc tiêu cực, giảm bớt nỗi đau tinh thần. Ở những trường hợp này, người bệnh đã trải qua một khoảng thời gian khó khăn với những nỗi đau tâm lý bên trong. Họ có thể đã bị căng thẳng quá mức, cô đơn quá mức hoặc phải trải qua một sự kiện sang chấn nào đó.

Họ mất khả năng điều chỉnh và bày tỏ cảm xúc của mình, trở nên cô đơn, mất kết nối với người khác. Một số nghiên cứu nói rằng, hành vi tự hủy hoại bản thân tạo ra các chất gây tê tự nhiên trong cơ thể, có khả năng tự xoa dịu những nỗi đau tinh thần. Một số trường hợp khác chia sẻ rằng, họ dùng nỗi đau thể xác để tự đánh lạc hướng bản thân, quên đi nỗi đau tâm lý bên trong. Vì vậy mà bệnh nhân thường lặp đi lặp lại hành vi tự hại nhiều lần để thỏa mãn nhu cầu của mình. 

Tìm kiếm sự quan tâm chú ý

Nguyên nhân thường gặp khác là tìm kiếm sự quan tâm chú ý từ những người xung quanh. Đó là khi mà người bệnh quá cô đơn, không được quan tâm đầy đủ hoặc thiếu tình thương lâu ngày nhưng không tìm được cách nào để an ủi bản thân. Từ đó họ chọn phương án tiêu cực là tự tổn hại bản thân để nhận được sự chú ý và quan tâm mà họ mong muốn.

Nhiều người mắc hội chứng tự hủy hoại bản thân cho biết, việc gây ra các vết thương thể xác giúp họ nhẹ nhõm ngay lập tức, nhưng chỉ là tạm thời. Khi cơn đau qua đi, các cảm xúc tiêu cực vẫn còn nguyên vẹn, kèm theo đó là cảm giác tội lỗi, xấu hổ, tự ghét bỏ chính mình. Mặc dù vậy, họ vẫn không ngừng làm bản thân bị thương vì không biết cách đối phó nào khác nữa.

tự hủy hoại bản thân

Sự phát triển của Internet

Sự phát triển của internet cũng là một trong những nguyên nhân gián tiếp. Với sự đa dạng thông tin của thế giới mở và năng lực tiếp cận công nghệ nhanh nhạy, người trẻ hoàn toàn có thể tìm thấy rất nhiều nội dung cổ vũ, hướng dẫn tự hủy hoại bản thân trên các trang mạng xã hội.

Người có rối loạn tâm lý thường che giấu vấn đề của mình với người thân, thay vào đó thường ẩn danh để tìm kiếm sự giúp đỡ từ cộng đồng mạng. Nếu họ tìm thấy kênh thông tin hỗ trợ điều trị, họ sẽ được chia sẻ và giúp đỡ lành mạnh.

Tuy nhiên, nếu họ tìm thấy những cộng đồng ủng hộ hành vi tự gây tổn hại bản thân, họ sẽ càng được cổ vũ và hướng dẫn như đó là một hành vi bình thường. Kết quả, họ có thể càng ngày càng lún sâu vào vũng lầy của mình.

Tại sao tỉ lệ người trẻ tự hủy hoại bản thân ngày càng tăng?

Độ tuổi phổ biến xuất hiện hành vi tự hại bản thân được cho là từ 12 đến 24 tuổi. Một số nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy hành vi tự hủy hoại ở người lớn chiếm tỉ lệ 4%, ở thanh niên là 15%, còn ở sinh viên chiếm đến 17-35%. Hành vi tự gây thương tích cũng được tìm thấy ở những người nghiện rượu và nghiện ma túy. Tuy nhiên, tình trạng tự hại ở trẻ em tuổi dậy thì và học sinh sinh viên vẫn đáng báo động nhất.

Có thể nói, những áp lực tiêu cực từ gia đình, trường học và các mối quan hệ xung quanh thường gây ra cho giới trẻ những cảm giác căng thẳng, ức chế kéo dài và là nguyên nhân chính gây ra trầm cảm ở tuổi dậy thì.

Trong khi ở lứa tuổi này, các em chưa được vững vàng về nhận thức và tâm lý để có thể quản lý cảm xúc bản thân hoặc đối phó với những tình huống khó khăn. Khi trạng thái ức chế tâm lý kéo dài không được loại trừ, người bệnh không tìm thấy niềm vui trong cuộc sống, họ lại tìm cơn thỏa mãn trong những nỗi đau thể xác.

tự hủy hoại bản thân

Cách xử trí khi người thân có dấu hiệu tự hủy hoại

Khi nhận thấy hoặc nghi ngờ người thân có các triệu chứng tự gây tổn thương bản thân, bạn cần đưa họ đến chuyên khoa tâm thần của các cơ sở y tế để được điều trị sớm. Vì đây là hành vi nguy hiểm và có thể tái diễn nhiều lần, nên càng can thiệp sớm càng giảm bớt tổn thương cho người bệnh.

Bác sĩ sẽ giúp bệnh nhân và người nhà tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề, từ đó điều chỉnh những nhận thức chưa đúng hoặc chữa lành các tổn thương tâm lý. Chỉ khi giải quyết nguyên nhân cốt lõi bên trong thì người bệnh mới có thể chấm dứt hành vi nguy hiểm của mình.

Người nhà bệnh nhân cũng cần có phản ứng bình tĩnh, không trách móc, la mắng. Hãy xem lại các mối quan hệ xung quanh người bệnh xem liệu có điều gì gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến họ hay không để điều chỉnh kịp thời. Tích cực phối hợp với bác sĩ giúp đỡ bệnh nhân chấm dứt triệt để nguyên nhân gây bệnh.

Tự hủy hoại bản thân là một trong những hội chứng của xã hội hiện đại. Mặc dù nguy hiểm đáng kể, nhưng nếu được chữa trị kịp thời bằng các biện pháp phù hợp, người bệnh hoàn toàn có thể thoát khỏi được hội chứng này và học được cách đối phó lành mạnh với những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Nếu cảm thấy khó khăn trong cuộc sống hãy liên hệ với đội ngũ bác sĩ/chuyên gia tâm lý của chúng tôi để nhận được những lời khuyên và liệu trình điều trị phù hợp nhất.

Các Phương Pháp Điều Trị Rối Loạn Lo Âu Điển Hình Bạn Nên Biết

Từ lâu, rối loạn lo âu đã được biết đến là một trong những chứng bệnh tâm lý điển hình có ảnh hưởng khá lớn đến sức khỏe tinh thần và thể chất nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Hiểu được mức độ nghiêm trọng của rối loạn lo âu nên bác sĩ tâm lý xin phép được giới thiệu đến bạn đọc một số thông tin chi tiết liên quan đến vấn đề chẩn đoán và điều trị rối loạn lo âu ngay dưới đây!

Rối loạn lo âu là gì?

Về khái niệm, bạn có thể hiểu rối loạn lo âu là một nhóm bệnh tâm lý có thể hình thành nên phản ứng lo lắng và sợ hãi kéo dài liên tục. Việc lo lắng quá mức xuất hiện quá nhiều lần có thể khiến con người hình thành các hành vi trốn tránh khỏi các tác nhân gây lo lắng quá mức. Chúng ta có thể nhắc đến một số rối loạn lo âu điển hình dưới đây:

  • Rối loạn lo âu tổng quát
  • Chứng rối loạn hoảng sợ
  • Bệnh rối loạn lo âu xã hội
  • Ám ảnh sợ chuyên biệt
  • Chứng sợ hãi

rối loạn lo âu

Phương pháp chẩn đoán rối loạn lo âu

Để các bác sĩ và chuyên gia tâm lý đưa ra cách điều trị rối loạn lo âu phù hợp nhất với trạng thái tâm lý của bệnh nhân, bước đầu tiên bạn cần trải qua khi xuất hiện những triệu chứng của rối loạn lo âu chính là thực hiện các chẩn đoán chuyên môn.

Cụ thể, bạn có thể tìm đến các chuyên gia, bác sĩ cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tinh thần để tìm hiểu về dấu hiệu lo lắng của bản thân, mức độ nghiêm trọng của vấn đề để tìm ra giải pháp điều trị kịp thời.

Chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần sẽ có trách nghiệm kiểm tra các dấu hiệu tiềm ẩn thông qua việc trao đổi, trò chuyện hoặc kiểm tra bằng thiết bị y tế để có những chẩn đoán chính xác nhất. Hiện nay, các chuyên gia thường áp dụng hai phương pháp chẩn đoán rối loạn lo âu phổ biến bao gồm:

Đánh giá tâm lý

Với phương pháp đánh giá tâm lý, chuyên gia sẽ tiến hành trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan đến chứng rối loạn lo âu của người bệnh, từ đó đưa ra những chẩn đoán sơ bộ về vấn đề của bệnh nhân cũng như hoạch định ra một số nguy cơ tiềm tàng nếu như vấn đề còn tiếp diễn trong tương lai, chẳng hạn như lo âu quá mức có thể hình thành trầm cảm hoặc lạm dụng hóa chất…

bác sĩ tâm lý

Sử dụng bảng đánh giá DSM- 5

Các tiêu chí trong sổ tay DSM- 5 sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần được xuất bản bởi Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ sẽ có tác dụng giúp các bác sĩ chẩn đoán được chính xác các triệu chứng của rối loạn lo âu.

Test rối loạn lo âu

Ngoài những phương pháp trên thì bạn hoàn toàn có thể làm 1 bài test để sàng lọc rối loạn lo âu. Kết quả của bài test có thể cho bạn biết bạn đang ở giai đoạn nào của rối loạn lo âu để có thể đi gặp chuyên gia / bác sĩ kịp thời.

Một số phương pháp điều trị rối loạn lo âu

Sau khi đã xác định được mức độ nghiêm trọng của chứng rối loạn lo âu với bệnh nhân, các chuyên gia và bác sĩ tâm lý sẽ xây dựng kế hoạch điều trị chi tiết để hỗ trợ người bệnh vượt qua khó khăn. Cụ thể, các phương pháp điều trị rối loạn lo âu sẽ bao gồm:

Điều trị bằng thuốc rối loạn lo âu

Trong quá trình thăm khám và chẩn đoán bệnh, các bác sĩ sẽ dựa vào tình hình bệnh của bạn cũng như cơ địa để đưa ra những phương pháp điều trị phù hợp. Trong đó, nếu cần thiết thì bác sĩ sẽ tiến hành kê đơn thuốc điều trị rối loạn lo âu. Chúng ta có thể nhắc đến một số loại thuốc rối loạn lo âu dưới đây:

Thuốc chống trầm cảm

Thuốc chống trầm cảm hiện đại (SSRI và SNRI) thường là những loại thuốc đầu tiên được kê cho người bị rối loạn lo âu. SSRI bao gồm một số loại thuốc điều trị trầm cảm như escitalopram( Lexapro) và fluoxetine (Prozac). SNRIs bao gồm duloxetine (Cymbalta) và venlafaxine (Effexor).

Bên cạnh đó, các bác sĩ cũng có thể kê đơn một số loại thuốc chống trầm cảm đặc biệt cho bệnh nhân với chất ức chế monoamine oxidase (MAOIs). Tuy nhiên, loại thuốc này thường ít được kê đơn bởi chúng bao gồm một số tác dụng phụ như làm tụt huyết áp, gây khô miệng, mờ mắt, bí tiểu hoặc thậm chí là không an toàn cho một số người.

Bupropion

Đây là một loại thuốc chống trầm cảm được sử dụng để điều trị chứng lo âu mãn tính. Loại thuốc này hoạt động khác với thuốc chống trầm cảm hiện đại SSRI và SNRI.

Benzodiazepin

Bác sĩ có thể kê một trong những loại thuốc Benzodiazepin nếu bạn đang có cảm giác hoảng sợ hoặc rối loạn lo âu kéo dài dai dẳng. Thuốc Benzodiazepin có tác dụng rất tốt giúp bạn giảm lo lắng tạm thời, tiêu biểu là thuốc Alprazolam và Clonazepam.

Các loại thuốc Benzodiazepin sẽ hoạt động nhanh chóng, ổn định, tuy nhiên nếu bạn sử dụng thuốc dài ngày thì rất có thể gặp phải tình trạng bị phụ thuộc vào thuốc. Vì vậy, nếu sử dụng các loại thuốc Benzodiazepin thì bạn chỉ nên dùng tạm thời, không nên sử dụng quá lâu dài.

Thuốc chẹn beta

 Đây là loại thuốc điều trị rối loạn lo âu giúp bạn cảm thấy dễ chịu hơn nếu đang có các triệu chứng lo lắng về thể chất, chẳng hạn như tim đập nhanh, run rẩy, toát mồ hôi… Vì vậy, thuốc chẹn beta có thể giúp bạn thư giãn tạm thời trong cơn lo âu cấp tính.

Thuốc chống co giật

Các bác sĩ sẽ kê đơn thuốc chống co giật cho những bệnh nhân bị rối loạn lo âu có tiền sử bệnh động kinh. Thuốc sẽ làm giảm đến tối đa tình trạng co giật cũng như giảm triệu chứng lo âu ảnh hưởng đến thể chất của người bệnh.

Thuốc chống loạn thần

Thông thường, các bác sĩ thường sử dụng thuốc chống loạn thần với liều lượng thấp để giúp phương pháp điều trị rối loạn lo âu đạt được hiệu quả tốt nhất.

Buspirone (BuSpar)

Đây là một loại thuốc điều trị rối loạn lo âu mãn tính. Thông thường các bác sĩ sẽ kê đơn để bệnh nhân sử dụng  loại thuốc này trong thời gian tốt nhất từ 3-5 tuần.

thuốc điều trị rối loạn lo âu

Điều trị rối loạn lo âu bằng biện pháp tâm lý trị liệu

Tâm lý trị liệu là phương pháp điều trị rối loạn lo âu chủ yếu bằng cách trò chuyện, tư vấn. Bằng cách này, nhà tâm lý sẽ sử dụng chuyên môn tham vấn và trị liệu để giúp người bệnh tìm ra vấn đề ảnh hưởng đến trạng thái cảm xúc của bản thân, từ đó gợi ý hoặc định hướng để tìm ra cách tự giải quyết vấn đề, đối mặt và cải thiện chứng rối loạn lo âu.

Thông thường, các chuyên gia tâm lý trị liệu sẽ sử dụng liệu pháp nhận thức hành vi (CBT). Liệu pháp tâm lý này sẽ giúp bạn có phương pháp để biến đổi dần suy nghĩ, hành vi tiêu cực gây lo lắng thành những suy nghĩ tích cực hơn. Đồng thời, bạn sẽ tự tìm được cách tiếp cận, quản lý các tình huống gây nên tình trạng rối loạn lo âu, từ đó tìm được cách giải quyết tốt nhất cho vấn đề của bản thân.

Trên đây là một số thông tin liên quan đến phương pháp chẩn đoán cũng như cách điều trị rối loạn lo âu điển hình đang được các chuyên gia/bác sĩ tâm lý sử dụng để hỗ trợ bệnh nhân. Hy vọng qua những thông tin này, bạn đọc đã tích lũy được một số thông tin quan trọng về chứng rối loạn lo âu cũng như hiểu được cách điều trị chứng bệnh này theo tiêu chuẩn chuyên môn.

1900 1246 Bản đồ
Liên hệ Zalo Hellodoctors.vn